hiện sự bành trớng sức mạnh về kinh tế và nâng cao uy tín chính trị của Mỹ
tại khu vực. Ngoài ra, lợi ích của Mỹ tại Châu á- Thái Bình Dơng cũng
không nằm ngoài hình thức viện trợ và cho vay vốn với quy mô lớn, lãi suất
hạ để đặt điều kiện về chính trị kinh tế trói buộc các nớc đang phát triển
vào quỹ đạo điều khiển của mình.
Thứ ba, Châu á -Thái Bình Dơng đối với Mỹ cũng là nơi đắc địa để phát
huy lợi thế so sánh, di chuyển t bản, nâng cao năng suất và quan trọng có
thể khắc phục phần nào tình trạng lão hoá sản phẩm bằng cách chuyển các
ngành nghề tơng đối lạc hậu sang nớc này, để thay thế vào đó bằng sự bứt
phá mới về công nghệ hiện đại, phát huy tối đa sản xuất trong nớc.
Thứ t, Châu á với các nớc nh Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan
đều có xu hớng chú trọng tới việc tạo nền tảng công nghệ riêng của mình.
Điều này có lợi ích không nhỏ đối với Mỹ trong việc trao đổi hợp tác để có
đợc tính đa dạng khi tiếp cận với các kỹ thuật mới bên ngoài nớc Mỹ mà
vẫn giảm thiểu đợc các chi phí R&D và những rủi ro khác. Châu á-Thái
Bình Dơng luôn là tiềm tàng những lợi ích to lớn về kinh tế-chính trị-thơng
mại mà Mỹ hằng theo đuổi. Để phát huy mạnh mẽ " mảnh đất" đợc coi
là"không có nơi nào quan trọng hơn khi Mỹ tiến hành khôi phục nền kinh
tế của mình", Mỹ luôn cố gắng duy trì sự cân bằng lực lợng trong khu vực,
dùng các liên minh quân sự, căn cứ quân sự để ngăn chặn một cách có hiệu
quả các nguy cơ gây bất ổn trong khu vực. Đây cũng là một ý nghĩa chiến
lợc to lớn về mặt địa lý _chính trị đối với Hoa Kỳ.
1.3 Chiến lợc Châu á-Thái Bình Dơng trong chiến lợc toàn cầuMỹ.
Chiến lợc toàn cầu của Mỹ với căn cứ chính là lục địa Châu Mỹ xuất kích
hớng ra Thái bình Dơng và Đại Tây Dơng để xây dựng một chiến lợc bá
chủ toàn cầu. Châu Âu, châu á-Thái Bình Dơng, Trung Đông đều là trọng
điểm chiến lợc ngoại giao của Mỹ. Chiến lợc này đợc thực thi với tên gọi
"cam kết và mở rộng", lấy dân chủ hoá toàn cầu làm nội dung chủ yếu và
dùng an ninh kinh tế cùng với thực lực quân sự làm hậu thuẫn, tham dự và
mở rộng các công việc quốc tế và khu vực, từ đó thựch hiện vai trò lãnh đạo
thé giới của Mỹ Nh vậy, chiến lợc châu á thái bình dơng là sự triển khai
chiến lợc toàn cầu này, mang đầy đủ tính chất và mục tiêu mà Mỹ theo
đuổi.
Nội dung của Chiến lợc bao gồm:
Tăng cờng quan hệ an ninh: Trong lĩnh vực an ninh, quân sự,
chính quyền Oashinhton duy trì các mối quan hệ an ninh với các
nớc đồng minh truyền thống nh Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan,
Philipin, Australia, trong đó hợp tác an ninh Mỹ , Nhật có tầm
quan trọng số một.
Đẩy mạnh các hoạt động thơng mại và liên kết kinh tế:
Củng Cố quan hệ đồng minh với Nhật Bản
Cải thiện và phát triển quan hệ với Trung Quốc.
5
II. Chính sách của Mỹ đối với Việt Nam:
Quan hệ Hoa kỳ và Việt Nam là quan hệ giữ một nền kinh tế hùng mạnh
nhất thế giới với một nớc đang phát triển nằm khiêm tốn trên bán đảo Đông
Dơng thuộc Đông Nam á với diện tích bằng 1/30 diện tích Hoa Kỳ, GNP
bằng 1/360 GNP Hoa Kỳ, GNP đầu ngời bằng 1/100 GNP đầu ngời của
Hoa kỳ.
Gần 20 năm kể từ khi kết thúc cuộc chiến tranh năm 1975, Mỹ thực thi
chính sách cấm vận Việt Nam về kinh tế với việc duy trì các đạo luật, chính
sách kiềm chế sự phát triển của Việt Nam. Mối quan hệ Việt -Mỹ trong giai
đoạn này chỉ là những thơng lợng về tù binh chiến tranh. Cho đến năm
1991, khi tổng thống Clinton lên nắm quyền, với chơng trình 5 điểm về
kinh tế đối ngoại nhằm mục tiêu chính là ổn định nền kinh tế Mỹ và Thế
giới, coi thơng mại là nhân tố u tiên đối với an ninh Mỹ, tăng cờng vai trò
lãnh đạo của Mỹ trong giới tài chính quốc tế, mở rộng thị trờng sang các n-
ớc đang phát triển và Việt Nam cũng nằm trong chơng trình này. Quán triệt
tinh thần của bối cảnh mới trên chiến trờng quốc tế, đối với Việt Nam, Mỹ
tiến hành chuyển từ đối đầu sang đối thoại, "khép lại quá khứ, hớng tới t-
ơng lai", mở rộng quan hệ ngoại giao để đẩy mục tiêu kinh tế lên hàng đầu
nh một sự triển khai để chiến lợc toàn cầu của mình tại khu vực Châu á
Thái Bình Dơng mà Đông Nam á là một tiêu điểm.
Việt Nam với dân số gần 80 triệu ngời, trong đó nguồn nhân lực dồi dào
cần cù, giá nhân công thấp, đội ngũ trí thức trẻ năng động, cùng nguồn tài
nguyên thiên nhiên phong phú cha đợc khai thác, đặc biệt là tiềm năng về
dầu mỏ, nông lâm hải sản quả là hứa hẹn về một thị trờng tiêu thụ lớn khi
mà mức sống của ngời dân ngày càng đợc cải thiện, nhu cầu tiêu dùng và
thẩm mỹ ngày càng cao. Những lợi thế kinh tế kể trên đã thu hút mạnh mẽ
giới kinh doanh quốc tế. Hơn nữa, sức hấp dẫn của thị trờng này cũng đợc
xét đến nhờ vị trí địa lý chính trị quan trọng khi Việt Nam nằm ở trung tâm
của tuyến đờng biển huyết mạch từ Bắc á xuống Đông Nam á và ấn Độ
Dơng. Đối với Mỹ, Việt Nam còn có ý nghĩa địa lý -chính trị trong việc
kiềm chế Trung Quốc. Ngoài ra, Việt Nam có quân cảng chiến lợc Cam
Ranh, từ đó có thể khống chế một vùng rộng lớn ở Đông Nam á.
Khoảng 3 tháng ( tính từ đầu tháng 10/1995) sau khi tổng thống Bill
Clinton tuyên bố bình thờng hoá quan hệ Việt Mỹ, hội đồng thơng mại Mỹ-
Việt do Visginia Foot làm chủ tịch đã công bố một tài liệu ghi nhận rằng
hiện nay Mỹ rất mong muốn đợc tham gia vào việc phát triển Việt Nam.
Tuy dung lợng thị trờng cha đợc lớn mạnh và VN cha phải là trọng tâm
trong chiến lợc Châu á Thái Bình Dơng của Mỹ đối với Việt Nam tất yếu
hớng tới nới lỏng cấm vận, bình thờng hoá mối quan hệ, mở rộng thị trờng,
đẩy mạnh xuất khẩu.
III Chính sách của Việt Nam đối với Hoa Kỳ và sự cần thiết phải thúc
đẩy quan hệ Việt -Mỹ
6
Khi tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố : " Giờ đây chúng ta có thể tiến
tới một nền tảng chung. Bất kể những gì đã chia sẻ chúng ta trớc đây,
chúng ta hãy xếp vào quá khứ. Hãy để cho giờ phút này là một thời điểm để
hàn gắn và thời điểm kiến tạo" thì cũng là lúc Việt Nam mở cửa đón nhận
luồng gió mới của xu hớng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, trong
đó việc " khép lại quá khứ , hớng tới tơng lai " đối với Mỹ cũng nằm trong
chiến lợc này. Đó cũng là lúc cả hai nớc đều ý thức đợc tiềm năng của việc
bình thờng hoá quan hệ và việc ký kết một hiệp định thơng mại song phơng
giữa hai nớc. Việc bình thờng hoá đợc bắt đầu từ sự thiết lập mối quan hệ
ngoại giao bằng cách đặt ĐSQ ở thủ đô của hai nớc, tiếp đó là việc nới lỏng
cấm vận, dỡ bỏ các rào cản kinh tế thơng mại. Trong hai năm qua, Mỹ và
Việt NAm đã tiến hành đàm phán về hiệp định thơng mại song phơng
(BTA) và đã đạt đợc một thoả thuận trên nguyên tắc cho các điều khoản
của hiệp định này.
BTA là bớc khởi đầu cho việc thực hiện dần dần những thay đổi thiết chế
quan hệ kinh tế trong nhiều năm. Việt Nam nhất thiết phải tiến hành những
thay đổi này để hội nhập kinh tế và tham gia vào tổ chức thơng mại thế giới
(WTO). Tự do hoá thơng mại phải đợc thực hiện cùng lúc với nhiều loại
hình cải cách kinh tế khác. Đối với VN, ích lợi quan trọng nhất mà BTA
đem lại là giành đợc quy chế quan hệ thơng mại bình thờng của Hoa Kỳ.
Quy chế này sẽ giúp các nhà xuất khẩu Việt Nam tiếp cận đợc với thị trờng
tiêu dùng lớn nhất thế giới, và mặt khác nó giúp VN trở thành nơi hấp dẫn
các công ty nớc ngoài đầu t vào thị trờng xuất khẩu của VN. Năm 1998,
Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ chủ yếu là hàng tiêu dùng nh cà phê, gia vị,
dầu ăn, hải sản, đạt 553 triệu USD. Nếu có quy chế NTR ( Quan hệ mậu
dịch bình thờng) hàng VN xuất khẩu vào Mỹ có thể lên tới 800 triệu USD,
chủ yếu là hàng may mặc. Hiệp định thơng mại cũng sẽ tạo điều kiện cho
các công ty Mỹ thâm nhập vào khu vực dịch vụ nh viễn thông, bảo hiểm,
ngân hàng. Nó là một yếu tố rất quan trọng để giúp sản phẩm của VN có
sức cạnh tranh trên thị trờng Quốc tế. Ngoài ra, tiếp cận với thị trờng Hoa
Kỳ cũng tăng khả năng thu hút đầu t nớc ngoài của VN tiến tới việc phát
triển nhiều nghành CN mới. Từ đó, sự gia tăng nhiều nghành nghề mới sẽ
tạo ra hàng triệu việc làm cho ngời dân, dẫn đến việc nâng cao chất lợng
cuộc sống cho toàn thể nhân dân Việt nam.
Trong thời điểm hiện nay, khi mà tăng trởng kinh tế hàng năm suy giảm
từ đỉnh cao 9,5% năm 1995 xuống dới 5% năm 1999, đầu t trực tiếp nớc
ngoài kích thích chính của sự tăng trởng đã tụt xuống 600 triệu USD năm
1999 mức thấp nhất kể từ năm 1992, thì nó đợc coi nh là nhân tố quan
trọng trong ban lãnh đạo VN nhận thấy đầu t của Mỹ vào VN là cách thức
chính để VN quay ngợc các tỷ lệ tăng trởng đang giảm sút. Cho tới nay Mỹ
mới chỉ là nguồn đầu t nớc ngoài đứng thứ 9 tại VN và thu hút dới 5% xuất
khẩu của VN. Một hiệp định thơng mại song phơng có thể làm thay đổi các
con số này bằng việc Mỹ chấp nhận tạo u đãi thuế theo MFN cho VN, qua
đó dành cho các nhà xuất khẩu của VN các mức thuế nh đợc áp dụng đối
với các nớc khác đã đợc nhận MFN. Ký kết đợc hiệp định thơng mại với
7
Mỹ, VN sẽ có cơ hội tiến gần hơn với việc nhận đợc lợi tức thơng mại từ
Mỹ dới hệ thống u đãi phổ cập (GSP), quy chế cho phép nhiều hàng nhập
khẩu từ các quốc gia kém phát triển hơn vào thị trờng Mỹ mà không bị
đánh thuế. Hơn nữa, các quan chức VN coi hiệp định thơng mại song ph-
ơng là một bớc đệm quan trọng tiến tới gia nhập WTO. Họ không chỉ coi
BTA là việc cần thiết để giành sự ủng hộ của Mỹ cho việc VN gia nhập
WTO, mà họ còn coi các tiến trình đàm phán và thực hiện hiệp định này là
hữu ích cho việc nâng cao các hệ thống kinh tế, quy định và luật pháp theo
tiêu chuẩn của WTO.
Về phía Mỹ, các quan chức chính quyền cũng nói rằng bản hiệp định th-
ơng mại song phơng này sẽ hối thúc VN hớng tới một XH dân chủ hơn bởi
nó gắn Chính phủ (VN) vào việc thực hiện những cải cách thị trờng, xiết
chặt vòng luật pháp, hội nhập hoàn toàn các xí nghiệp của VN vào nền kinh
tế toàn cầu, và về kinh tế trao quyền hợp pháp cho cá nhân. Về mặt chiến l-
ợc, Chính quyền lập luận rằng cùng với các BTA mới hoàn tất với
Campuchia và Lào, BTA Mỹ -VN sẽ khuyến khích sự ổn định khu vực
thông qua việc hội nhập một cách êm ả Đông Dơng vào cộng đồng toàn cầu
và khu vực.
ChơngII
Quan hệ kinh tế thơng mại của Việt Nam và Mỹ
từ 1991đến nay
I Lịch sử và thực trạng quan hệ kinh tế thơng mại Việt -Mỹ từ 1991
cho đến trớc khi ký kết hiệp định thơng mại.
1.1 Giai đoạn trớc khi bình thờng hoá (1991-1994)
Tháng 4/1991, chính quyền BUSH đã trao cho các quan chức VN một lộ
trình trong đó vạch ra những bớc mà VN và Mỹ, mỗi bên sẽphải thực hiện
để tiến tới bình thờng hoá các quan hệ đã bị đình chỉ về căn bản kể từ khi
kết thúc chiến tranh năm 1975. Theo lộ trình này, sự tiến bộ vcủa VN trong
việc giúp giải quyết vấn đề POW/MIA là các vấn đề khác sẽ đợc Mỹ đáp
lại bằng một loạt những bớc cụ thể nhằm mở rộng các quan hệ. Lộ trình
này gồm 4 giai đoạn mà kết thúc bằng việc Mỹ sẽ thiết lập các quan hệ
8
ngoại giao, cấp địa vị buôn bán tối huệ quốc và ủng hộ việc các tổ chức tài
chính quốc tế (IFI) giúp đỡ các nhu cầu không cơ bản của con ngời ở VN.
Năm 1992, Mỹ đã cung cấp3 triệu USD viện trợ nhân đạo cho Việt Nam
đồng ý tái thiết liên lạc viễn thông trực tiếp với VN, đồng ý cho phép các
công ty thơng mại Mỹ bán hàng để đáp ứng nhu cầu con ngời cơ bản ở VN
và loại bỏ những hạn chế với các dự án ở VN do các tài chính phi chính
phủ("NGOs") Mỹ thực hiện.
Vào tháng 7 /1993, đáp lại sự tiến bộ của chính phủ VN, Mỹ đã thôi phản
đối việc khôiphục các dự án của IFI. Ngay sau đó, vào tháng9/1993, chính
quyền Clinton đã gia hạn thêm lệnh cấm vận thơng mại nhng lại cho phép
các công ty Mỹ đâú thầu các dự án phát triển ở VN do IFI tài trợ.
1.2 Giai đoạn sau khi bình thờng hoá ( Từ 1994 đến nay)
1.2.1 Bãi bỏ lệnh cấm vận:
Tháng 2/1994, tổng thống Clinton đã bãi bỏ lệnh cấm vận buôn bán kéo
dài ở VN và tuyên bố cho phép có những giao dịch tài chính thơng mại là
giao dịch mới khác với VN và các công dân VN. Cùng ngày 3/2 Tổng
thống còn tuyên bố ý định cho phép lập các văn phòng phi ngoại giao
Washington và HN. Đợc Mỹ coi nh là một điều kiện tiên quyết, một hiệp
định giải quyết các tài sản ngoại giao và những yêu cầu còn tồn tại khác đã
đợc ký kết các tài sản ngoại giao và những yêu cầu còn tồn tại khác đã đợc
ký kết tại HN vào ngày 28/1/1995 và chính thời điểm đó các VP này phải
có một quan chức phụ trách ngoại thơng nào tiếp theo tuyên bố 3/2/1994 là
việc xem xét lại địa vị của VN trong hệ thống những quy định kiểm soát
xuất khẩu Mỹ.
1.2.2 Thiết lập các quan hệ ngoại giao.
Vào ngày 11/7/1995, tổng thống Clinton đã tuyên bố rằng VN và Mỹ sẽ
thiết lập mối quan hệ ngoại giao bằng việc trao đổi đại sứ. Hành động này
đã có nhiều hàm ý quan trọng đối với giới kinh doanh Mỹ. Trớc khi các đại
sứ quán vận hành với đầy đủ chức năng và quan hệ kinh tế đợc chính phủ
Mỹ bảo hộ, tất nhiên sẽ phải hoàn tất.
1.2.3 Đối xử tối huệ quốc
Việc thiết lập quan hệ ngoại giao chỉ là sự khởi đầu của một quá trình
phải tuân thủ trớc khi chính phủ Mỹ có thể mở rộng địa bàn buôn bán tối
huệ quốc (MFN) cho VN và trớc khi các công ty Mỹ có thể cảm thấy an
toàn về các công việc làm ăn và đâù t của mình ở VN Tối huệ quốc đề cập
đến một đơn vị buôn bán có tiêu chuẩn công bằng hay bình thờng. Đó là sự
đối xử không phân biệt mà Mỹ áp dụng với những đối tác thơng mại của
mình. Đó là tiêu chuẩn nâng đỡ, làm nền tảng cơ sở cho những mối quan hệ
thơng mại bình thờng giữa Mỹ và hầu hết tất cả các đôí tác buôn bán của
Mỹ. Hiện nay, Mỹ từ chối đối xử MFN chỉ với một số nớc nh: Việt Nam,
Cuba, Campuchia, Lào, Bắc Triều Tiên, Tuy Mỹ có dành MFN cho Lybia
9
và Irắc nhng việc cấm vận về buôn bán chống lại những nớc này đã khiến
địa vị tối huệ quốc của họ trở thành vô giá trị.
Để phân biệt các sản phẩm đợc hởng MFN và các sản phẩm không đợc h-
ởng địa vị đó, Mỹ đã duy trì một bản thuế quan gồm hai cột hoặc hai danh
sách về các loại thuế. Cột 1 thực tế đợc phân thành 2 phần chung và đặc
biệt,. Phần chung của cột cho thấy thuế suất áp dụng cho những hàng hoá
đợc chế tạo ở những nớc đợc hởng đại vị tối huệ quốc ; phần đặc biệt của
cột liệt kê các thuế quan u đãi hoặc đối xử đặc biệt mà Mỹ áp dụng theo
các hiệp định thơng mại đặc biệt nh hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ. Cột
2 cho thấy thuế xuất áp dụng cho những hàng hoá của những nớc không đ-
ợc hởng MFN. Thuế quan của cột 2, trong nhiều trờng hợp, hết sức cao.
Sự khác nhau giữa thuế suất tối huệ quốc và thuế suất không tối huệ quốc
là đáng kể. Đó là vì thuế quan tối huệ quốc đợc giảm đều đặn theo thời gian
do kết quả của các cuộc thơng lợng buôn bán nhiều bên trong đó Mỹ và các
bạn hàng của Mỹ đồng ý giảm thuế quan mà họ áp dụng cho các hàng hoá
của nhau trên cơ sở có đi có lại. Trong khi đó thuế quan ở cột 2 vẫn không
thay đổi kể từ khi chúng đợc định ra lần đầu. Thuế quan tối huệ quốc trung
bình của các hàng hoá hoà nhập vào thị trờng Mỹ là dới 4% còn thuế quan
trung bình trong cột 2 là trên 50%. Do đó không có gì đáng ngạc nhiên là
mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của VN cho đến nay chỉ là cà phê. (VN xuất
khẩu gần 30 triệu USD sang Mỹ vào năm 1994, trở thành nớc cung cấp lớn
thứ 5 của Mỹ).
Trớc khi có vòng thơng lợng của hiệp định chung về thuế quan và mậu
dịch (GATT) Mỹ chỉ đối xử tối huệ quốc với những nớc đã thơng lợng các
hiệp ớc buôn bán tay đôi. Về sau, cùng với việc hình thành GATT Mỹ đã
chấp nhận nghĩa vụ của GATT là phải mở rộng địa vị tối huệ quốc vô điều
kiện cho tất cả các thành viên của GATT, kể cả những nớc mà Mỹ cha th-
ơng lợng một hiệp định buôn bán tay đôi nào.
Tuy vậy, những lo ngại về chủ nghĩa cộng sản đã dẫn đến Quốc hội và
chính quyền Mỹ đến chỗ đình chỉ tối huệ quốc đối với các nớc cộng sản.
Theo đạo luật hiện hành ban hành ngày 3/1/1975, tổng thống Mỹ đã phải
tiếp tục từ chối đối xử tối huệ quốc với bất cứ nớc nào đã bị từ chối địa vị
đó vào ngày ban hành đạo luật đó. Vì (Bắc) VN không đợc hởng địa vị tối
huệ quốc vào ngày 3/1/1975, nên hiện nay VN đợc yêu cầu phải đáp ứng 3
điều kiện để hàng hoá của mình có thể đợc hởng thuế quan tối huệ quốc khi
họ có quan hệ buôn bán với Mỹ.
Khẳng định hoặc bãi bỏ yêu cầu về di c: Tổng thống hoặc phải
khẳng định đợc rằng VN đã cho phép các công dân của mình di
c tự do hoặc phải bãi bỏ yêu cầu về di c đó trên cơ sở cho rằng
việc bãi bỏ đó sẽ đẩy mạnh đợc các mục tiêu di c của Mỹ. Theo
điều 603 của Đạo luật mậu dịch năm 1974, tổng thống có thể
khẳng định rằng một nớc không có nền kinh tế thị trờng không
hợp tác với Mỹ để tiến hành kiểm kê đầy đủ những ngời Mỹ bị
10
mất tích trong chiến tranh ("MIA" để cho những ngời còn sống
hồi hơng hoặc trả lại những di vật của họ.
Hiệp định thơng mại song phơng: Mỹ và VN phải ký với nhau
một hiệp định thơng mại để dành cho nhau sự đối xử không phân
biệt. Loại hiệp định này Mỹ đã thơng lợng với nhiều chính phủ
cộng sản trớc đây và hiện nay đảm bảo bảo vệ quyền sở hữu trí
tuệ, việc có sẵn các thủ tục bảo vệ nếu nhập khẩu tăng gây ra đe
doạ gây rối loạn thị trờng trong nóc và các tiêu chuẩn phân xử
trong trờng hợp xảy ra bất đồng buôn bán. Nếu là một hiệp định 3
năm thì phải đợc cả hai viện quốc hội thông qua. Tuy vậy, một
khi đợc thông qua, nó sẽ tự động gia hạn thêm 3 năm nữa.
Phê chuẩn quốc hội: Bớc thứ 3 để đối xử tối huệ quốc đối với các
hàng xuất khẩu của VN sang Mỹ là sự phê chuẩn của quốc hội
đối với hiệp định mậu dịch. Một khi đợc trình bày cho quốc hội
thì hiệp định mậu dịch này có thể bị chất vấn gay gắt cả về lịch sử
quan hệ với VN bởi vì quốc hội rất chú ý các vấn đề nhân quyền,
nh các cuộc tranh luận xảy ra suốt 5 năm qua mỗi khi việc gia
hạn địa vị tối huệ quốc của Trung Quốc đặt ra trớc Quốc hội đã
cho thấy. Cụ thể trong khung cảnh VN, cơ quan nghiên cứu của
Quốc hội (CRS) đã lu ý rằng " Những phàn nàn về việc vi phạm
quyền con ngời" (nh bắt bớ tuỳ tiện và ngợc đãi) tại VN đã gây
xôn xao d luận quốc tế. Hơn nữa CRS còn chú thích rằng " những
hoạch định chính sách trong quốc hội và chính phủ Mỹ luôn nhấn
mạnh sự quan tâm đặc biệt của họ tới phần đông tù nhân ở VN,
cảnh cáo rằng nhân quyền là một vấn đề trung tâm trong chính
sách đối ngoại của Mỹ và cũng không chỉ liên quan đến chính
sách đối với VN".
1.2.4 Những thành tựu
Ngày 10/3/1998, th ký báo chí Nhà Trắng ra thông báo cho biết Tổng
Thống Bill Clinton đã ký quyết định bãi miễn áp dụng điều luận bổ sung
Jackson Vanik đối với Việt Nam. Việc bãi miễn này cùng với các quy định
có liên quan và việc bãi bỏ đạo luật viện trợ nớc ngoaì và đạo luật Ngân
hàng XNK sẽ cho phép Việt Nam tham gia vào các chơng trình khuyến
khích xuất khẩu có hỗ trợ đầu t của Mỹ.Trong đó có chơng trình liên quan
đến Ngân hàng XNK , CTy đầu t t nhân ra nớc ngoài (OPIC), cục hàng hải
(MADRAD) và cơ quan phát triển quốc tế (AID)> Sự hỗ trợ của các CTy
này sẽ giúp cho CTy Mỹ đang hoạt động ở Việt NAm cạnh tranh một cách
có hiệu quả trên thị trờng Việt Nam.
Theo đó, Việt Nam và Hoa kỳ cùng hớng tới nhau trong mối quan hệ về
nhu cầu XNK các mặt hàng mang tính chất bổ sung lẫn nhau. Hoa Kỳ hớng
tới Việt Nam nh một thị trờng đông dân đầy tiềm năng ở Châu á. Còn Việt
Nam hớng tới Mỹ nh một thị trờng có nền công nghệ kỹ thuật hiện đại và
11
nguồn vốn dồi dào bậc nhất thế giới . Hoa Kỳ đang hớng về Châu á trong
khi Việt Nam hớng tới các chuẩn mực thơng mại thế giới.
Đến nay, hầu hết các hãng lớn nh: Microsft, Kilon, Kodak, General,
Cocacola, Dial ,. đều đã xuất hiện tại Việt Nam. Mặc dù mới thâm nhập thị
trờng song các sản phẩm trên đã nhanh chóng chiếm đợc cảm tình, thu hút
thị hiếu của khách hàng Việt Nam.nhờ chiến lợc Marketing rầm rộ, chất l-
ợng sản phẩm cao, nguồn vốn lớn ,.
Sau khi lệnh cấm vận đợc huỷ bỏ, hàng Việt Nam đã thâm nhập vào thị
trờng Mỹ con đờng Chính ngạnh. Bia Sài Gòn hiện đã có mặt ở các tiểu
bang Colorado, Washington, Orgon, Kanas , với chất lợng đợc đánh giá
cao hơn hẳn bia Trung Quốc vốn đã có mặt ở thị trờng Hoa Kỳ từ rất lâu
Năm 1995. hãng Bitis cũng đã đặt VPĐD tại New York để mở rộng buôn
bán hàng Giày dép sang Hoa Kỳ.
Theo số liệu của Bộ Thơng mại Mỹ, con số về giá trị hàng XNK giữa hai
nớc còn lớn hơn nhiều. Kim ngạch mậu dịch Việt _Mỹ năm 1994 đã tăng
lên gần 224 triệu USD so với 62 triệu năm 1993 ( tăng hơn 30 lần) và đạt
trên 1 tỷ USD năm 1996.
a. Về Thơng Mại:
Xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ
Năm 1994, Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ lợng hàng hoá trị giá 50,45
triệu USD trong đó hàng nông nghiệp là 38,3 triệu (chiếm 76% giá trị hàng
xuất khẩu sang Hoa Kỳ ) và hàng phi nông nghiệp chỉ chiếm 12,15 triệu (t-
ơng ứng 24% ). Năm 1995, kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ đạt 198,966 triệu
USD ( chiếm 76% giá trị hàng xuất khẩu sang Mỹ) và hàng phi nông
nghiệp đạt 47,417 triệu USD (24%).
Nh vậy, xét về mặt cơ cấu, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam
sang Mỹ trong năm 1994, 1995 là thuộc nhóm nông, lâm, thuỷ sản,. Trong
nhóm này, cà phê chiếm phần lớn với kim nghạch 29,969 triệu USD năm
1994, 145, 174 triệu năm 1995. Hàng Công nghiệp nhẹ của Việt Nam cũng
bắt đầu xâm nhập thị trờng Mỹ với kim ngạch năm 1995 đạt 24,4 triệu USD
trong đó hàng dệt may chiếm chủ yếu gần 20 triệu USD. Năm 1996, chỉ
trong 9 tháng đầu năm, giá trị kim ngạch XNK sang Mỹ đạt 232,595 triệu
USD trong đó hàng NN chỉ còn chiếm 46% ( 106,5 triệu USD) và hàng phi
NN là 54%(126,203 triệu USD). Trong năm 1996, nhóm hàng giày dép đã
nổi lên nh một điểm sáng với kim ngạch vợt nhóm hàng dệt may. Nhóm
hàng CN nặng và khoáng sản đã có bớc chuyển biến tích cực. Hai năm
1994-1995 nhóm hàng này chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chủ yếu là xuất khẩu thiếc
(1994: 106.000 USD, 1995: 799.000 USD). Trong năm 1996 ta đã bắt đầu
xuất khẩu dầu thô sang Mỹ và đạt trị giá 80,6 triệu USD, báo hiệu sự tăng
mạnh kim ngạch nhóm mặt hàng này trong tơng lai. Tuy xuất hiện muộn
song giá trị của mặt hàng này đã chiếm vị trí thứ hai, sau cà phê trong danh
mục các mặt hàng Mỹ nhập khẩu nhiều nhất từ Việt Nam.
Nhập Khẩu của Việt Nam từ Mỹ:
12
Ngay năm đầu tiên sau khi Mỹ huỷ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam
hàng nhập khẩu từ Mỹ đã tăng mạnh về số lợng và phong phú đa dạng về
chủng loại. Năm 1993, chỉ có 4 nhóm hàng đợc phép xuất khẩu sang Việt
Nam nhng trong năm 1994, số nhóm hàng đã tăng lên 35. Các mặt hàng
chủ yếu xuất sang Việt Nam là máy móc và thiết bị, phân bón, ô tô, thiết bị
viễn thông.
Kim ngạch nhập khẩu hàng từ Mỹ năm 1994 đạt giá trị 172,223 triệu
USD. Năm 1995, con số này đã tăng vọt lên 252,860 triệu USD. Trong
Năm 1996, riêng trong 9 tháng đầu năm, hàng nhập khẩu từ Mỹ đã gấp 2
lần cả năm 1995, đạt 530,597 triệu USD.
Trong mấy năm qua, Việt Nam luôn nhập siêu lớn trong buôn bán với
Mỹ. Năm 1994, ta nhập siêu 121,773 triệu US. Năm 1995 là 53,894 triệu
và 9 tháng đầu năm 1996 là 298 triệu USD. Lợng nhập siêu cao chủ yếu do
Việt Nam mua máy bay của Mỹ ; Năm 1994 kim ngạch nhập khẩu máy
bay là 72 triệu USD, trong 5 tháng đầu năm 1995, Việt Nam mua máy bay
và phơng tiện hàng không của Mỹ đạt trị giá 281,076 triệu USD.
Năm 1994, nhóm máy móc thiết bị nói chung có kim ngạch 107 triệu,
năm 1995 lên 115,4 triệu USD 5 tháng đầu năm 1996 khoảng 316 triệu
USD. Nhóm mặt hàng nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất cũng chiếm
phần kim ngạch đáng kể, chủ yếu là phân phối, bông sợi, xăng dầu sắt thép
và một số loại hoá chất. Nhóm mặt hàng trong nớc cha sản xuất đợc và sản
xuất của Việt Nam cha đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nên năm 1995 tổng kim
ngạch nhập khẩu từ Mỹ tăng hơn 52% so với năm 1994. Trong nhóm hàng
nguyên vật liệu phục vụ sản xuất nhập từ từ Mỹ, phân bón có kim ngạch
lớn nhất, 5 tháng đầu năm 1996 là 33,546 triệu USD. Các hàng nông sản
thực phẩm và hàng tiêu dùng , có kim ngạch thấp hơn. Đặc biệt, danh
mục hàng xuất khẩu sang Việt Nam của Hoa kỳ còn có hàng xuất từ thiện
chủ yếu là thuốc men, bột dinh dỡng. Nhóm " hàng tổng hợp" gồm một loạt
hàng hoá máy móc có tổng kim ngạch khoảng 24 triệu USD.
b. Đầu t của Mỹ vào Việt Nam
Giai đoạn trớc khi lệnh cấm vận đợc huỷ bỏ ( trớc 3/2/1994)
Mỹ là một trong những nớc chậm nhất đặt chân vào thị trờng đầu t Việt
Nam. Trong khi các công ty của các nớc khác hoạt động sôi động tại thị tr-
ờng Việt Nam thì Mỹ lại có mặt vì lệnh cấm vận chống Việt Nam. Tuy
nhiên, hy vọng vào tình hình đợc cải thiện và hấp dẫn với tiềm năng kinh tế
to lớn trong hợp tác đầu t với Việt Nam, các công ty có tiếng của Hoa Kỳ
nh: IBM, Boring, Ford, MoBil đã có mặt tại Việt Nam từ năm 1988 để tìm
kiếm cơ hội hợp tác đầu t, đặt nền móng để hoạt động đợc ngay khi lệnh
cấm vận đợc huỷ bỏ, thông qua chi nhánh hoặc đầu t gián tiếp qua công ty
của nớc thứ ba, Hoa kỳ đã có 7 dự án đầu t tại Việt Nam.
Khi bắt đầu có những nới lỏng từ phía chính phủ Mỹ, hợp đồng hợp tác
đầu t đã có những bớc đột phá quan trọng. Năm 1991, Mỹ cho phép các
13
công ty của mình đợc tổ chức đoàn Việt Nam thì từ đó có hàng trăm đoàn
doanh gia Mỹ sang nớc ta để tìm cơ hội làm ăn. Các công ty này đã ra sức
tìm kiếm cơ hội ký kết hợp đồng thơng mại và đầu t để có thể hoạt động
khi lệnh cấm vận đợc bãi bỏ, đồng thời mở văn phòng đại diện của mình tại
thị trờng này để xúc tiến hơn nữa hoạt động làm ăn. Cuối năm 1992 văn
phòng kiểm soát tài sản nớc ngoài của Mỹ đã thông qua cơ chế xem xét
từng trờng hợp một và đã cấp giấy phép cho 160 CTy Mỹ đợc hoạt động tại
Việt Nam. Tuy nhiên trong số này chỉ có 27 CTy có đợc hoạt động thật sự
trong năm.
Giai đoạn sau khi lệnh cấm vận đợc huỷ bỏ:
Sau khi tổng thống Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận, đầu t trực
tiếp của các CTy Hoa Kỳ vào Việt Nam đã tăng mạnh. Con số dự án đầu t
tăng vọt từ 7 đến 33 với tổng vốn lên tới 321, 9 triệu USD đứng vị trí thứ 14
trong danh sách các nớc đầu t lớn vào Việt Nam. Đến tháng 4/1996 Mỹ đã
có 60 dự án đợc cấp giấy phép đầu t với tổng số vốn đăng ký là
1.171.736.000 USD, trong đó có 5 dự án bị rút giấy phép. Mỹ đứng thứ 6
trong danh sách các quốc gia và lãnh thổ đầu t vào Việt Nam sau Đài Loan,
Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore và Hàn Quốc năm 1996.
Tính đến tháng 5/1997, Hoa Kỳ có 68 dự án đầu t đợc cấp giấy phép với
tổng số vốn đăng ký trên 1,2 tỷ USD trong đó có 62 dự án đang hoạt động
với tổng số vốn đăng ký trên 1,1 tỷ USD. Đầu t của Mỹ chủ yếu tập trung
vào Công nghiệp ( 24 dự án với 536,6 triệu USD ), nông lâm nghiệp (8
dứan với 77,5 triệu USD), xây dựng (41,6 triệu USD). Các địa phơng có
nhiều dự án đầu t là thành phố Hồ Chí minh, Hà Nội , Đồng Nai. Tính đến
1997 vốn đầu t đã thực hiện đạt 200,6 triệu USD chiếm 25,1 % tổng vốn đã
đăng ký.
Tính đến năm 1999, các công ty Mỹ đã nhận đợc hơn 30 giấy phép đầu t
với tổng giá trị gần 1,1 tỷ USD Mỹ và Hoa Kỳ hiện đứng thứ 9 trong số các
nhà đầu t lớn nhất vào Việt Nam. Đầu t đợc tiến hành trong các lĩnh vực từ
ngân hàng đến y tế và điện lực. Các nhà đầu t Hoa Kỳ đã có mặt tại hầu hết
các tỉnh của Việt Nam, đem lại nhiều lợi ích cho các khu vực còn phát triển
cha mấy thành công nh Hà Nội và thành phố HCM. Các công ty Mỹ đã hỗ
trợ nhiều chơng trình XH qua việc ủng hộ tiền bạc và đóng góp kinh
nghiệm chuyên môn.
Nhiều tổ chức phi chính phủ của Mỹ đã đến đào tạo cho các nhà doanh
nghiệp ở cả thành thị và nông thôn VN, tiến hành một lợng lớn các dự án
có giá trị ở cấp cơ sở nh dự án phát triển tiểu doanh nghiệp, chăm sóc sức
khoẻ cộng đồng.
Hiện nay trở ngại lớn nhất đó là các vấn đề kinh tế và chính trị thờng đan
xen nhau, nhiều vấn đề cha thể giải quyết đợc cùng một lúc. Phía Mỹ,
nhiều ngời muốn gắn việc giải quyết các vấn đề về ngời Mỹ mất tích và tù
binh trong chiến tranh với việc bình thờng hoá quan hệ kinh tế với Việt
Nam, thậm chí cha muốn thúc đẩy quan hệ thơng mại với Việt Nam. Do
hiệp định thơng mại cha đợc ký kết, Việt Nam cũng cha giành đợc quy chế
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét