Chủ Nhật, 16 tháng 3, 2014

Tài liệu Hệ thống tiểu ban thuộc ủy ban nghị viện trên thế giới và một số kinh nghiệm cho Quốc hội Việt Nam pptx


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Hệ thống tiểu ban thuộc ủy ban nghị viện trên thế giới và một số kinh nghiệm cho Quốc hội Việt Nam pptx": http://123doc.vn/document/1039440-tai-lieu-he-thong-tieu-ban-thuoc-uy-ban-nghi-vien-tren-the-gioi-va-mot-so-kinh-nghiem-cho-quoc-hoi-viet-nam-pptx.htm


Cho đến nay, TB đã trở thành một thuật ngữ pháp lý nghị viện phổ
biến được hiểu là nhóm người được chọn từ UB để nghiên cứu và báo
cáo về một chủ để cụ thể10[10]; là sự chia nhỏ của một UB đã được
thiết lập vì mục đích phân chia công việc của UB11[11]; hay là bộ phận
chia nhỏ của UB để chuyên môn hóa theo phạm vi thẩm quyền cụ thể,
tạo ra sự phân công công việc của UB và những kiến nghị của TB phải
được toàn thể UB phê chuẩn trước khi trình Thượng viện12[12]. Đồng
thời, TB cũng đã trở thành một bộ phận cố định trong cơ cấu UB, một
phương thức hoạt động chủ yếu, quan trọng và hiệu quả của hệ thống
UB ở khá nhiều Nghị viện mạnh và lâu đời trên thế giới như ở Mỹ,
Canada, Hồng Kông, Úc, Anh, Pháp, Đức…
2. Cơ cấu nhỏ nhất nhưng số lượng nhiều nhất, phương thức hoạt
động linh động, trực tiếp và hiệu quả nhất của hệ thống Ủy ban
a) Vị trí và việc thành lập TB

10[10]Subcommittee (a number of people chosen from a committee (=
a small group of people who represent a larger organization and make
decisions for it) to study and report on a particular subject).
11[11] “Danh sách thuật ngữ lập pháp”, Barbara Lee Hạ nghị sĩ Hoa Kỳ;
http://lee.house.gov (A subdivision of a committee established for the
purpose of dividing the committee's workload)
12[12] http://www.senate.gov: “Subcommittees are a subunit of a larger
committee. Subcommittees specialize in specific areas and help to
divide a committee's workload. A subcommittee's recommendations
must be approved by the entire committee before being reported to the
Senate”.
- Vị trí, cấu trúc của TB: TB là bộ phận trực thuộc UB và là đơn
vị nhỏ nhất trong cơ cấu tổ chức của UB nói riêng và của Nghị viện nói
chung. Để khẳng định vị trí này của TB, một số nước hoặc quy định rõ
TB là đơn vị nhỏ nhất hoặc nghiêm cấm các UB thành lập đơn vị nhỏ
hơn TB. Ví dụ như ở Mỹ13[13]. Tuy nhiên, ở đây cần lưu ý để phân
biệt TB thuộc UB với nhóm đại biểu và TB do Nghị viện thành lập. Ở
một số nước tồn tại các nhóm đại biểu (có thể cùng quan tâm tới một
vấn đề hoặc cùng đảng phái hoặc cùng đơn vị bầu cử…) nhưng đây
không phải là một bộ phận thuộc cơ cấu luật định, vì thường thành lập
một cách tự phát, không có cấu trúc tổ chức và thẩm quyền cụ thể. Bên
cạnh đó, cá biệt, một số Nghị viện có quyền thành lập các TB trực
thuộc Nghị viện trong trường hợp cần thiết, nhưng trên thực tế hiếm khi
xảy ra. Ví dụ ở Canada, Malaysia14[14].
Cấu trúc của TB thường khá đơn giản, gọn nhẹ gồm Trưởng TB,
Thư ký và các thành viên. Ở một số Nghị viện còn có Phó Trưởng TB và
bộ phận giúp việc. Nguyên tắc chung, danh sách các ứng viên sẽ được

13[13] Điều X Quy tắc Hạ viện Mỹ nghiêm cấm mọi UB thành lập và
duy trì các tiểu đơn vị (không phải là TB) quá 6 tháng, nếu vi phạm thì
tiểu đơn vị đó được coi là một TB để tính giới hạn số lượng TB tối đa ở
UB đó (Hạ viện Mỹ quy định số lượng TB tối đa trong một UB là 5, nếu
có TB giám sát thì là 6). Quy tắc Thượng viện Mỹ còn quy định ngặt
nghèo hơn khi “nghiêm cấm các UB thiết lập bất kỳ đơn vị nhỏ nào khác
ngoài TB, trừ trường hợp đặc biệt nhưng phải được sự đồng ý của toàn
thể Thượng viện”
14[14] Ở Canada chưa thấy Quốc hội thành lập loại TB này. Còn ở Hạ
viện Malaysia đãthành lập 4 TB bao gồm TB Ngân sách, TB về những
quy định của Quốc hội, TB hai viện và TB đặc quyền của Nghị sỹ.
trình UB quyết định tại phiên họp toàn thể. Tổng số lượng thành viên
của một TB ở các nước là nhiều ít khác nhau, trung bình từ 5 đến 10
người. Không ít nước quy định số lượng thành viên tối thiểu và tối đa
trong một TB. Ví dụ: Theo quy định của Điều 115A Quy chế Nghị viện
Srilanka năm 1993, số lượng TB tối thiểu phải là 3 thành viên15[15];
còn theo quy định của Hạ viện Úc, số lượng tối thiểu phải là 2 thành
viên. Trong khi đó, ở Hạ viện Mỹ, Quy tắc 26 của Nhóm đảng Dân chủ
có quy định “khi Đảng Dân chủ chiếm đa số, không một TB nào có số
lượng thành viên vượt quá 60% tổng số thành viên của UB”. Hay trong
Điều 95 Quy tắc Thượng viện Canada năm 2010 có quy định “UB lựa
chọn có quyền thành lập các TB nhưng số lượng thành viên tối đa không
được quá 50% tổng số thành viên UB đó”… Tuy nhiên, dù chính thức
hoặc không chính thức quy định trong luật, việc lựa chọn các chức danh
lãnh đạo và tỷ lệ cơ cấu thành viên trong TB thường chịu ảnh hưởng và
phản ánh tương quan lực lượng giữa các đảng phái trong UB16[16].
Theo đó, đảng chiếm đa số trong UB luôn chiếm ưu thế về số lượng
thành viên TB và cử người giữ cương vị Trưởng TB.
- Thẩm quyền, thời điểm, quy trình thành lập và số lượng TB:
Nghị viện các nước đều trao thẩm quyền thành lập TB cho UB trên

15[15] Tham khảo:
http://www.parliament.lk/about_us/standing_orders.js
16[16] Ở Úc, theo Quy tắc Thượng viện Úc, tại Chương 5 (UB thường
trực và UB lựa chọn), khi quy định về thành viên của các UB (Điều 27)
đã ghi nhận “Khi UB thành lập TB, mỗi TB phải có tối thiểu một thành
viên từ UB được Lãnh đạo của Chính phủ trong Thượng viện giới thiệu
và tối thiểu một thành viên từ UB được Lãnh đạo phe đối lập giới thiệu”.
nguyên tắc tùy nghi và có sự kiểm soát. Về cơ bản, có hai loại hình TB
là TB thường trực và TB lâm thời. TB thường trực hoạt động thường
xuyên trong cả nhiệm kỳ, được thành lập bởi UB thường trực vào đầu
nhiệm kỳ17[17] và phụ trách một mảng công việc có tính ổn định của
UB. Còn TB lâm thời hoạt động trong một khoảng thời gian nhất định
(được ấn định ngay khi thành lập hoặc tự giải tán khi hoàn thành nhiệm
vụ); được thành lập bất cứ lúc nào và thường để giải quyết những công
việc phát sinh đột xuất, phức tạp hoặc nhạy cảm. Sự kiểm soát từ phía
Nghị viện có thể được thực hiện qua cơ chế như (i) giới hạn tối đa, tối
thiểu số lượng TB trong một UB18[18]; (ii) thiết lập quy trình thành
lập với sự thống nhất từ phía Văn phòng Nghị viện (để quản lý về biên
chế, lương…) và sau đó là phê chuẩn của Nghị viện19[19]; (iii) giới
hạn loại hình UB có thẩm quyền thành lập TB20[20]. Số lượng TB

17[17] Ví dụ, ở Hạ viện Mỹ, các vấn đề liên quan đến thành lập TB sẽ
được thảo luận ngay sau khi cuộc bầu cử tháng Mười Một và thường
được hoàn thành trong tháng Mười Một hoặc tháng Mười Hai.
18[18] Luật Hạ viện X của Mỹ lại quy định, mỗi UB thường trực không
được thành lập quá 5 TB không kể TB giám sát, trừ một số ít UB ngoại
lệ; nếu UB có từ 20 đại biểu trở lên thì bắt buộc phải thành lập TB giám
sát.
19[19] Ví dụ: Theo quy định của Điều 12.5 Quy tắc Nghị viện Scốtlen,
các UB có thể thành lập một hoặc nhiều TB với sự phê chuẩn của Nghị
viện trên cơ sở đề nghị của Văn phòng Nghị viện và việc thay đổi thành
viên của TB cũng theo thủ tục tương tự.
20[20] Ví dụ: Điều 108 Luật Nghị viện Canada quy định chỉ có UB
thường trực mới được mặc nhiên thành lập các TB, UB lập pháp chỉ
được thành lập loại TB về Chương trình nghị sự và Thủ tục; UB đặc biệt
chỉ được thành lập TB khi được sự đồng ý của Hạ viện/Thượng viện
(hoặc cả hai nếu là UB đặc biệt hỗn hợp). Điều 57 Luật Nghị viện Hàn
trong một UB là nhiều ít khác nhau ở từng Nghị viện, từng UB và từng
thời điểm. Ví dụ, trong năm 2011, Thượng viện Mỹ có 12/16 UB thành
lập TB, với tổng số 61 TB; trong đó UB Phân bổ Ngân sách có số lượng
TB nhiều nhất là 12, còn UB Y tế, Giáo dục, Lao động và Lương hưu có
số lượng TB ít nhất là 3. Nhìn chung, đại đa số các nước không quy
định giới hạn số lượng TB tối đa và tối thiểu trong một UB, ngoại trừ
Luật Hạ viện X của Mỹ quy định “mỗi UB thường trực không được
thành lập quá 5 TB, không tính TB giám sát, trừ một số ít UB ngoại lệ;
nếu UB có từ 20 đại biểu trở lên thì bắt buộc phải thành lập TB giám
sát”.
b) Chức năng, thẩm quyền và cơ chế hoạt động của TB
Chức năng cơ bản, khái quát và tiểu biểu nhất của TB thuộc UB
của Nghị viện là giúp UB giải quyết một hoặc một số công việc thuộc
phạm vi thẩm quyền của UB đã được Nghị viện trao cho. Chức năng
này quyết định tới phạm vi thẩm quyền và cơ chế hoạt động của TB.
Phạm vi thẩm quyền của TB được thiết lập trên cơ sở kết hợp
giữa hai yếu tố là phạm vi công việc (phân công) và mức độ trao quyền
giải quyết công việc (phân quyền). (i) Phạm vi công việc là giới hạn
những công việc cụ thể mà UB phân công cho từng TB. Đây là cách
thức phân chia theo chiều ngang hoặc chiều rộng. Theo đó, mỗi TB sẽ

Quốc 1991 quy định “các UB được thành lập TB để xem xét các vấn đề
cụ thể. Các UB thường trực (trừ UB thường trực về tình báo) được
thành lập TB thường trực theo các mảng công việc thuộc thẩm quyền”.
phụ trách một hoặc một nhóm công việc nhất định và khi phát sinh
công việc liên quan đến mảng đó thì TB tương ứng mặc nhiên có quyền
thực hiện. Thông thường, những công việc có tính ổn định, thường
xuyên sẽ được trao cho TB thường trực, còn những công việc đột xuất
sẽ được giao cho TB lâm thời… Theo cách thức phân quyền này, về lý
thuyết, toàn bộ các mảng công việc của UB có thể được chia về hết cho
các TB. Tuy nhiên, trên thực tế, các UB thường giữ lại cho mình một
hoặc một số mảng công việc nhất định để giải quyết tại phiên họp toàn
thể của UB. Ví dụ, UB Tài chính và Thuế vụ của Hạ viện Mỹ sau khi
chia một số mảng công việc về các TB thì vẫn giữ lại mảng công việc
về sửa đổi thuế thu nhập trong Bộ luật Thuế vụ. Hay UB Tài nguyên
giữ lại các vấn đề liên quan đến người Mỹ bản địa… (ii) Còn mức độ
phân quyền là giới hạn về thẩm quyền mà UB trao cho TB để giải
quyết một công việc cụ thể. Đây là cách thức phân chia theo chiều dọc.
Theo đó, UB có thể trao cho TB quyền giải quyết một mảng thẩm
quyền hoặc một hoặc một số công việc trong chuỗi quá trình giải quyết
công việc… Tuy nhiên, ở góc độ phân quyền cần lưu ý rằng, trong mọi
trường hợp, UB không bao giờ và không thể phân quyền tuyệt đối cho
TB. Tức là, TB không làm thay công việc của UB, không chịu trách
nhiệm thay UB trước Nghị viện. UB luôn phải giữ lại những thẩm
quyền trọng yếu nhất như phân công công việc, giải quyết tranh chấp
thẩm quyền giữa các TB; một số mảng công việc và quyền quyết định
giải quyết công việc cuối cùng. Ví dụ, UB tại phiên toàn thể phải là chủ
thể thông qua quyết định cuối cùng về kết quả thẩm tra đối với một dự
án luật, mặc dù kết quả đó có thể là tương tự với kết quả làm việc trước
đó của TB được thể hiện trong báo cáo trình UB tại phiên họp toàn thể.
Phương thức, hình thức làm việc của TB: Hoạt động của TB
được bảo đảm thông qua phiên họp toàn thể TB, hoạt động của lãnh
đạo TB và các thành viên của TB. Hình thức hoạt động của TB có thể
là giao cho một hoặc một số thành viên TB nghiên cứu nhóm vấn đề, tổ
chức các cuộc họp nội bộ, các cuộc khảo sát, các phiên điều trần…
Thông thường, để thực hiện một nhiệm vụ nhất định, các TB sử dụng
linh động, phối hợp nhiều hình thức khác nhau để đạt hiệu quả cao
nhất. Thực tế hoạt động TB ở Nghị viện một số nước cho thấy, điều
trần và tổ chức các cuộc họp toàn thể là tiêu biểu và phổ biến nhất.
Nhìn chung, phương thức và hình thức hoạt động của TB ở Nghị viện
các nước là tương đồng với UB. Ví dụ: Điều 97a Quy chế Thượng viện
Cộng hòa Séc quy định “Các quy định cho cuộc họp của UB được áp
dụng cho các cuộc họp của TB cho phù hợp”. Mục đích của việc tổ
chức các cuộc họp hoặc phiên điều trần là lấy lời khai, thu thập thêm
chứng cứ mới từ nhân chứng hoặc đối tượng liên quan để bổ sung, làm
rõ, thảo luận, đưa ra những đề xuất, kiến nghị của TB về vấn đề được
giao. Các cuộc họp, điều trần của TB được tiền hành định kỳ theo lịch
hoặc bất thường (theo triệu tập của Chủ tịch hoặc theo yêu cầu của tỷ lệ
nhất định thành viên TB (thường là 1/3 tổng số thành viên TB), nhưng
không được diễn ra vào thời điểm Nghị viện hoặc UB mẹ đang tiến
hành họp. Ở một số Nghị viện hoạt động thường xuyên như Mỹ,
Canada, Scốtlen thì các cuộc họp, điều trần của UB cũng như của TB
còn không được diễn ra trong thời gian Nghị viện nghỉ. Tất cả Nghị
viện các nước đều quy định về sự hợp lệ đối với cuộc họp hoặc điều
trần của TB bằng tỷ lệ tối thiểu thành viên của TB tham dự. Cuộc họp,
điều trần của TB chỉ được tiến hành khi và chỉ khi đạt được tỷ lệ thành
viên tối thiểu theo luật định. Tỷ lệ này được quy định khác nhau, tùy
từng nước và tính chất nội dung làm việc. Ví dụ, theo quy định tại
Khoản 7 Điều XXVI Luật Thượng viện Mỹ, cuộc họp thông thường
của TB được coi là hợp lệ nếu đủ từ 1/3 thành viên trở lên; có thể dưới
1/3 đối với nội dung là công bố, nhậm chức; từ 1/2 khi cần bỏ phiếu.
Nguyên tắc làm việc của TB là làm việc tập thể, quyết định theo
đa số và thường là công khai. Hầu hết các cuộc họp, phiên điều trần của
TB phải được thông báo trước, công khai (mở cửa, đăng tải hoặc truyền
hình trực tiếp) và theo quy trình, thủ tục chặt chẽ. Ví dụ: Quy chế về
quy trình, thủ tục làm việc của TB ở Hội đồng lập pháp Hồng Kông
mới được sửa đổi tháng 5 năm 2011 quy định việc tổ chức phiên điều
trần được chia làm 3 giai đoạn cơ bản, đó là chuẩn bị, tổ chức và sau
điều trần; mỗi giai đoạn lại quy định cụ thể từng công việc và gắn với
chủ thể, thời gian, trách nhiệm như: “TB phải mở cuộc điều trần chậm
nhất là 60 ngày kể từ ngày TB tiếp nhận hồ sơ công việc và kết thúc
phiên điều trần chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày mở phiên điều trần.
Tài liệu phiên điều trần phải được gửi tới đại biểu trước ít nhất 5 ngày.
Thông báo mở phiên điều trần phải được niêm yết công khai trước ít
nhất 2 ngày”. TB chỉ họp kín đối với những trường hợp đã được luật
định hoặc phải được đa số thành viên TB đồng ý. Các vấn đề cần họp
kín thường có nội dung thuộc bí mật hay nhạy cảm như: liên quan đến
bí mật quốc phòng, an ninh, đối ngoại; mang tính chất nội bộ hành
chính, thủ tục; đời tư, danh dự, uy tín của cá nhân; có thể tiết lộ danh
tính người làm chứng hoặc ảnh hưởng đến tố tụng hình sự; bí mật
thương mại, thông tin tài chính…21[21]
Hình thức, cách thức biểu quyết ở TB khá đa dạng và được các
áp dụng linh hoạt, có thể là giơ tay, phiếu biểu quyết hoặc ngồi thành
khu vực hoặc bỏ phiếu điện tử….; có thể biểu quyết từng nội dung hoặc
toàn bộ. Thông thường, Chủ tọa sẽ theo quy định của pháp luật để
quyết định hình thức biểu quyết. Nếu pháp luật không quy định hình
thức bỏ phiếu bắt buộc, Chủ tọa có thể quyết định hoặc thành viên tham
dự quyết định ngay tại phiên đó. Trên thực tế, kết quả biểu quyết
thường ở ba mức độ là (i) đồng ý với dự thảo ban đầu hoặc với sự thay
đổi nhỏ. Trong trường hợp này, dự thảo báo cáo của TB sẽ được hoàn
thiện sau đó trình UB mẹ; (ii) đề nghị cần chỉnh lý dự thảo theo ý kiến
đã được thống nhất tại cuộc họp và sẽ xem xét thông qua tại phiên tiếp
theo. Trong trường hợp này, Chủ tọa sẽ thông báo luôn nội dung và lịch
làm việc cho phiên điều trần tiếp theo; (iii) không đồng ý và yêu cầu
nghiên cứu lại. Trong trường hợp này, coi như dự án bị bác và nếu tiến
hành tiếp thì các bước được thực hiện lại từ đầu.

21[21] Điều 92 Quy chế Thượng viện Canada quy định những trường
hợp họp kín bao gồm: (i) Tiền lương, tiền công và các quyền lợi khác
của nhân viên; (ii) Đàm phán hợp đồng; (iii) Quan hệ lao động khác; (iv)
Những vấn đề liên quan đến cá nhân nhân viên; (v) Xem xét dự thảo
các chương trình nghị sự; (vi) Xem xét dự thảo báo cáo.
Hình thức và giá trị pháp lý của kết quả làm việc của TB: Kết
quả làm việc của TB được thể hiện qua các bản báo cáo và biên bản.
Tất cả các cuộc họp hoặc điều trần phải được ghi biên bản, thực hiện
lưu trữ. Báo cáo kết quả làm việc của TB phải thể hiện đầy đủ, chính
xác, trung thực các nội dung; bên cạnh việc thể hiện ý kiến đa số còn
phải thể hiện ý kiến thiểu số; phải được đăng tải công khai. Báo cáo
này sau khi hoàn thiện sẽ được Trưởng TB ký thay mặt TB để trình lên
UB mẹ. Nó phục vụ phiên họp toàn thể của UB mẹ và chỉ có giá trị
tham khảo. Nếu được toàn thể UB nhất trí thông qua, nó sẽ trở thành
báo cáo của UB và trình Nghị viện theo luật định. Nếu UB còn có ý
kiến khác nhau, tùy từng trường hợp, UB có thể yêu cầu TB tiếp tục bổ
sung, hoàn thiện hoặc thực hiện lại từ đầu, hoặc không giao cho TB đó
nữa.
Mối quan hệ công tác của TB: Với UB mẹ, TB thực hiện những
công việc trong phạm vi được UB giao, chịu sự lãnh đạo của Chủ
nhiệm UB; báo cáo chương trình hoạt động, kết quả công tác và chịu
trách nhiệm trước UB. Với các TB khác, chủ yếu thể hiện qua hai nội
dung cơ bản là phối hợp xây dựng kế hoạch công tác để trách chồng
chéo, trùng lặp về thời gian, địa điểm cũng như phạm vi hoạt động;
hoặc phối hợp cùng nhau thực hiện nhiệm vụ chuyên môn như cử thành
viên tham gia hoạt động của TB khác khi được mời hoặc thấy cần thiết.
Đặc biệt, trong một số trường hợp, hai hoặc nhiều TB có thể phối hợp
cùng nhau tổ chức các hoạt động trong trường hợp các công việc có sự
liên quan với nhau. Với các cá nhân, tổ chức khác, khi thực hiện nhiệm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét