trình điện khí hoá, cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá, hoá học hoá và sinh học
hoá. Trong các ngành lĩnh vực kinh tế quốc dân, các thành phần kinh tế, các vùng
kinh tế của đát nớc trong đó cần u tiên đa ngành công nghệ hiện đại thích hợp vào
các ngành, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế, các vùng lãnh thổ mũi nhọn trọng
điểm, đạt hiệu quả kinh tế cao, tích luỹ nhanh và lớn. Có nh vậy mới tạo khả năng
thu hút và thúc đẩy CNH- HĐH các ngành, các lĩnh vực và các thành phần kinh tế.
5
chơngII: cơ sở thực tiễn
1.Sự cần thiết phải phát triển KH- CN
Cách mạng KH- CN đã và đang diễn ra mạnh mẽ ở các nớc phát triển, tức
là ở những nớc đã trải qua thời kì cách mạng công nghệ, đã xác lập đợc nền sản
xuất cơ khí hoá đã có nền KH và CN tiên tiến. Tuy nhiên, nó không chỉ hạn chế
trong ranh giới của các nớc phát triển mà ảnh hởng của nó đang lan ra tất cả các n-
ớc trên thế giới . Có thể nói cách mạng KH- CN là một hiện tợng toàn cầu, hiện t-
ợng quốc tế sớm hay muộn nó sẽ đến với tất cả dân tộc và các quốc gia trên trái
đất
Là một hiện tợng toàn cầu, cuộc mạng KH- CN mang trong bản thân nó
những qui luật chung, phổ biến, chúng tác động vào tất cả các loại hình cách mạng
KH- KT. Nhng mặt khác, mỗi nớc tiến hành cuộc cách mạng này trong những
điều kiện riêng của đất nớc mình cho nên cách mạng KH- KT ở những nớc khác
nhau cũng mang những màu sắc, những đặc điểm khác nhau. Do đó, khi xem xét
cuộc cách mạng KH- KT ở nớc ta cần phải đặt nó trong bối cảnh chung của cách
mạng KH- KT trên thê giới.
Sau khi giành đợc độc lập về chính trị, nớc ta có nguyện vọng sử dụng
những thành tựu của cuộc cách mạng KT- CN hiện đại, muốn tiến hành cuộc cách
mạng đó để phát triển kinh tế, văn hoá, khoa học và kỹ thuật để đa đất nớc ta khỏi
tình trạng nghèo nàn và lạc hậu. Nguyện vọng đó là hoàn toàn chính đáng. Tuy
nhiên, việc tiến hành cách mạng KH- CN ở nớc ta gặp phải những khó khăn lớn,
do nhiều nguyên nhân
Trớc hết, nớc ta còn ở tình trạng lạc hậu về mặt kinh tế, khoa học và công
nghệ. Nông nghiệp và công nghiệp cha hết hợp thành một cơ cấu thống nhất, sự
mất cân đối trong các ngành kinh tế quốc dân trở nên trầm trọng
Về mặt văn hoá, khoa học và công nghệ thì số đông dân c nớc ta vẫn ở tình
trạng mù chữ, thiếu lực lợng lao động có trình độ chuyên môn cao, thiếu cán bộ
văn hoá và kỹ thuật. Thêm vào đó, sự tăng dân số quá nhanh đã gây ra những khó
6
khăn cho việc bảo đảm lơng thực, giải quyết công ăn việc làm cho những ngời lao
động
Ngoài những khó khăn trong nớc, nớc ta còn phải chịu những di sản nặng nề
do sự nô dịch của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân để kại, đồng thời các
cờng đế quốc lại đang thực hiện chính sách kìm hãm sự phát triển khoa học và kỹ
thuật nhằm duy trì tình trạng bất bình đẳng của họ trong sự phân công lao động
quốc tế
Nếu nớc ta sau khi đã đợc giải phóng khỏi sự nô dịch của chủ nghĩa đế
quốc, lại chọn con đờng phát triển t bản chủ nghĩa hoặc đứng giữa ngã ba đờng
trong việc lựa chọn phơng hơng phát triển xã hội dù chúng ta có sự cố gắng nh thế
nào đi nữa trong việc sử dụng những thành tựu KH- CN hiện đại thì chúng ta cũng
không thoát khỏi địa vị phụ thuộc vào các nớc đế quốc về mặt KH- CN và do đó
phụ thuộc về mặt kinh tế, không thể khắc phục đợc những mâu thuẫn xã hội do
tiến bộ khoa học và kỹ thuật gây ra, không thể tiến hành thành công cuộc cách
mạng KH- CN
Do đó, điều kiện kiên quyết để tiến hành cách mạng KH- CN ở nớc ta là phải
tiến hành cải tạo xã hội sâu sắc, chống chủ nghĩa đế quốc, chống chủ nghĩa thực
dân mới và các thế lực phản động để đi lên CNXH.
Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, khoa học và công nghệ nớc ta bớc
đầu có sự chuyển biến tích cực. Tuy nhiên cho đến nay, nền khoa học và kỹ thuật
nớc ta vẫn đang trong tình trạng lạc hậu, chậm phát triển cha đáp ứng đợc yêu cầu
của đất nớc
Về trình độ kỹ thuật- công nghệ, so với các nớc tiên tiến nhất trên thế giới,
chúng ta lạc hậu từ 50 đến 100 năm, so với các nớc tiên tiến ở mức trung bình ta
lạc hậu từ 1 đến 2 thế hệ
Với thực trạng đó, việc tiến hành cuộc cách mạng khoa học công nghệ ở
nớc ta không chỉ đợc coi là tất yếu khách quan, mà còn là một đòi hỏi bức xúc để
đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là đến năm 2020 về cơ bản nớc
ta trở thành nớc công nghiệp. Khác với các nớc đi đàu, công nghiệp hoá nớc ta đòi
7
hỏi phải thực hiện rút ngắn. chỉ có nh thế, chúng ta mới có thể sớm rút ngắn đợc
khoảng cách và tiến tới đuổi kịp các nớc phát triển. Công nghiệp hoá phải gắn liền
với hiện đại hoá
Cùng với đó, yêu cầu đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trờng cũng đòi hỏi
chúng ta phải phát triển khoa học và công nghệ. Để chuyển sang nền kinh tế thị tr-
ờng hiện đại từ điểm xuất phát thấp, nớc ta không thể đi theo các bớc tuần tự nh
các nớc đi trớc đã làm, mà phải phát triển theo kiểu nhảy vọt,rút ngắn. Đây
vừa là cơ hội để tận dụng lợi thế của nớc phát triển sau, vừa là thách thức đòi hỏi
phải vợt qua. Muốn phát triển nhanh kinh tế thị trờng theo cách thức nh vậy, nhất
thiết phải đẩy mạnh phát triển khoa học- công nghệ.
Đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ đối với nớc ta không chỉ bắt
nguồn từ đòi hỏi bức xúc của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
quá trình phát triển kinh tế thị trờng, mà còn bắt nguồn từ yêu cầu phát triển đất n-
ớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa, về
bản chất, là một kiểu định hớng tổ chức nền kinh tế- xã hội vừa dựa trên nguyên
tắc và quy luật của kinh tế thị trờng, vừa dựa trên nguyên tắc và mục tiêu của chủ
nghĩa xã hội. Định hớng này không chỉ đòi hỏi nền kinh tế tăng trởng ở mức cao
mà còn đòi hỏi phải xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.ở đó,
phát triển con ngời và phát triển xã hội bền vững đợc coi là trung tâm. Đâu là con
đờng phát triển chacó tiền lệ. Muốn đạt tới đó, chúng ta phải có nỗ lực và sáng tạo
rất cao, phải biết vận dụng những thành tựu mới nhất của nhân loại, tránh những
sai lầm mà các nớc khác đã vấp phải. Nếu không đủ trình độ trí tuệ, không đủ
năng lực nội sinh thì khó có thể thành công. Do vậy, đẩy mạnh phát triển khoa học
và kỹ thuật càng trở nên rất quan trọng và bức thiết.
2.Về hớng tác động của KH- CN
a. Tập trung nỗ lực tiến hành cải tạo, đồng bộ, hoá và hiện đại hoá có chọn
lọc các cơ sở sản xuất hiện có
Tuy cơ sở vật chất- kỹ thuật có của nớc ta còn nhỏ bé, trình độ công nghệ,
kỹ thuật vào loại lạc hậu, hệ số sử dụng thiết bị và công suất còn thấp. Bởi vậy,
8
nguồn dự trữ còn khá lớn và dới nhiều góc độ, đây thật sự đang là nguồn vốn quý
của đất nớc và phải bắt đầu từ đây để đi lên
b. Chủ động sử dụng có chọn lọc một số hớng công nghệ tiên tiến phù hợp
với thế mạnh của đất nớc nhằm chuẩn bị điều kiện phát triển các ngành có
hàm lợng công nghệ cao
ở nớc ta, cùng với việc tập trung nỗ lực KH- CN khai thác có hiệu quả cơ sở
vật chất- kỹ thuật hiện có, cũng cần phải chăm lo, dành một số phần tiềm lực d lớn
cho việc thử nghiệm, lựa chọn một sồ hớng công nghệ cao phù hợp để một mặt, hỗ
trợ cho việc giải quyết có hiệu quả hơn, mặt khác thúc đẩy việc hình thành một số
lĩnh vực sản xuất công nghệ cao với quy mô phù hợp để tạo ta các sản phẩm thay
thế nhập và tạo chỗ đứng trên thị trờng quốc tế.
Trong số những hớng công nghệ cao, cần quan tâm đầy đủ tới khâu tin học
hoá một số lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội. Cần có quyết tâm trong việc đầu t
phát triển một số lĩnh vực sản xuất gắn với các hơng u tiên của chơng trình tổng
hợp tiến bộ KH- CN. Đó là dịp tốt để VN tham gia vào phân công lao động quốc
tế về một số sản phẩm có hàm lợng khoa học cao
c. Thúc đẩy việc nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ của các xí nghiệp
nhỏ, của khu vực tiểu thủ công nghệp cả ở thành thị và nông thôn.
Kinh nghiệm thực tiễn chỉ ra rằng để có thể thực hiện có hiệu quả chiếm l-
ợc này, việc nhanh chóng khắc phục sự lạc hậu về công nghệ, sự yêú kém về năng
lực quản lý, sự thiếu hụt về lực lợng lao động có kỹ thuật là yêu cầu bức bách phải
giải quyết .Bởi vậy việc giành một phần nỗ lực đủ mạnh hớng vào việc giải quyết
các nhu cầu khoa học và công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn có
tầm quan trọng đặc biệt
Những phân tích nêu trên đã tới gợi ý quan trọng là chiến lợc phát triển
khoa học và kỹ thuật không thể không quan tâm đến việc nâng cao trình độ kỹ
thuật và công nghệ ,cải tiến và nên coi đây là một hớng có ý nghĩa chiến lợc cả
trớc mắt và lâu dài .
9
d.Kết hợp hữu cơ việc tập trung nỗ lực giải quyết các vấn đề trớc mắt và tiếp
tục tăng cờng tiềm lực khoa học và kỹ thuật nhằm đáp ứng những yêu cầu mới
của giai đoạn phát triển tiếp theo
3. Vai trò của KH- CN đối với một số lĩnh vực
a. Với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn và phát triển
nông thôn
Gần 20 năm qua sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã đạt đợc
những thành tựu to lớn góp phần quan trọng ổn định và phát triển kinh tế xã hội đa
nớc ta bớc sang giai đoạn mới đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất n-
ớc.Tuy nhiên cho đến nay với gần 80% dân số của cả nớc sống ở nông thôn, trong
đó tỷ lệ đói nghèo vẫn còn trên 22%, có nơi nh ở một số huyện miền núi còn trên
42%(theo chuân ngheò mơí). Mặt khác cũng do nền kinh tế nớc ta mới bớc đầu
chuyển từ nền sản xuất theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế
thị trờng định hớng XHCN nên năng suất, chất lợng và sức cạnh tranh của nông
sản, hàng hoá còn rất thấp so với nhiều nớc trong khu vực và thế giới. Điều đó làm
cho thu nhập và tích luỹ của đại bộ phận dân c nông thôn còn bấp bênh, sức mua
có khả năng thanh toán về t liệu sản xuất và t liệu tiêu dùng đều rất hạn chế, gây
ảnh hởng lớn đến sự chuyển dịch cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế, đồng thời gây
cản trở việc, phát triển công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn
So với các giải pháp khác, thì giải pháp về khoa học và công nghệ yêu cầu
vốn đầu t không quá lớn mà đem lại hiệu quả cao. Theo đánh giá chung, trong
nông nghiệp ớc tính 1/3 giá trị tăng của sản xuất lơng thực thời gian vừa qua là do
ngời dân tiếp thu, ứng dụng các tiến bộ khoa học và kỹ thuật mới vào sản xuất
Tuy nhiên, tiềm lực về KH- CN của nớc ta cha đợc phát huy đầy đủ cho sự
nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nhiều vấn đề bức xúc của sản xuất
nông nghiệp và kinh tế nông thôn đặt ra đối với các lực lợng KH- CN đến nay cha
giải quyết đợc, trong đó đáng lu ý hơn cả là :
- Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn là nội dung quan
trọng trong quá trình thực hiên CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, mà sự chuyển
đổi đó phụ thuộc vào việc tổ chức áp dụng thành tựu KH- CN vào sản xuất và các
10
chính sách thúc đẩy phát triển sản xuất. Chỉ trên cơ sở có đủ giống tốt và các tiến
bộ kỹ thuật khác, kết hợp với việc phát triển các quan hệ thị trờng đúng hớng mới
có thể chuyển cơ cấu sản xuất nông nghiệp từ thuần nông, độc canh sang đa dạng
hoá cây trồng. Hiện nay việc chuyển đổi kinh tế nông thôn từ nông nghiệp sang
công nghiệp, dịch vụ mới chỉ xuất hiện ở một số ven vùng có cơ sở hạ tầng kỹ
thuật, có trình độ dân trí cao, có khả năng tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật
-Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng nông, lâm, thuỷ sản hàng năm tuy chiếm
gần 40% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nớc, nhng nhìn chung, năng suất,
chất lợng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá còn thấp so với các nớc trong
khu vực và trên thế giới, khiến cho các sản phẩm làm ra tiêu thụ khó khăn, ảnh h-
ởng bất lợi đến thu nhập của ngời sản xuất. KH-CN cha có sự tác động cần thiết và
hiệu quả bản đảm tính ổn định, bền vững của nông sản hàng hoá khi gặp phải rủi
ro của thiên tai và thị trờng
- Phát triển công nghệ chế biến là nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình thực
hiện CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn, nhng phát triển công nghiệp, chế biến
nh thế nào lại là vấn đề bức xúc đang đòi hỏi nghiên cứu và làm rõ
- Gần đây, Nhà nớc tiếp tục tăng cờng đầu t xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
cho nông nghiệp, nông thôn. Hiện có rất nhiều vấn đề về kỹ thuật để bảo đảm hiệu
quả vốn đầu t của nhà nớc cha đợc giải quyết tốt. Do đó, nông nghiệp, nông thôn
đang rất cần có sự tác động của lực lợng KH- CN
Tình hình trên khẳng định vai trò của KH- CN trong quá trình thực hiện
CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nớc ta hiện nay và đó cũng chính là những
yêu cầu bức xúc đặt ra đối với các nhà khoa học vì sự phát triển của nông nghiệp,
nông thôn. Tuy nhiên, để huy động đợc các lực lợng KH- CN phục vụ nông
nghiệp, nông thôn, chú ý các vấn đề về tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành và các
chính sách tác động, trong đó cốt lõi là giải quyết hợp lý lợi ích cho ngời làm
nghiên cứu, triển khai các thành tựu của KH- CN.
Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật, công nghệ, áp dụng các tiến bộ kỹ
thuật phục vụ kinh tế nông nghiệp và nông thôn là một việc làm hiệu quả, đã
khẳng định vai trò, động lực chủ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp và chuyển đổi
11
cơ cấu kinh tế nông thôn, cần tổ chức, vận động thành phong trào rộng lớn đa KH-
CN về phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn nhằm tạo ra bớc chuyển
biến rõ rệt về năng suất chất lợng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản hàng
hoá, chủ động hội nhập cới khu vực và quốc tế, góp phần chuyển đổi nhanh cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi để có cơ
sở lựa chọn, nhân giống các sản phẩm có u thế ở từng vùng, từng địa phơng, phát
triển công nghiệp, công nghệ chế biến, ứng dụng các công nghệ sau thu hoạch
nhằm hạn chế tổn thất, duy trì chất lợng nông sản, khai thác các tiềm năng cha
phát huy hết, tăng cờng luận cứ khoa học để bảo đảm hiệu quả đầu t cho khu vực
nông nghiệp và nông thôn.
b. Mối quan hệ giữa KH- CN với sản xuất vật chất
Khoa học có nguồn gốc, bản chất, chức năng sứ mạng từ đời sống thực tiễn
của xã hội, con ngời. Nó không phải là bản thân công cụ lao động và sức lao động,
nhng cũng không nằm ngoài thành tố quan trọng nhất là lực lợng sản xuất. Nó
không thay thế, nhng nó có thể làm thay đổi mạnh mẽ, nhanh chóng tính năng
hiệu lực của công cụ lao động, sức lao động và do đó, phơng thức con ngời tác
động đến giới tự nhiên theo chiều hớng ngày càng tăng cờng sức mạnh, vai trò và
tự do của con ngời trớc thiên nhiên. Tuy nhiên, với tính cách là sản phẩm, giá trị
đã đợc sáng tạo ra, đã có sẵn, thì khoa học không còn là kết quả, mà lại dóng vai
trò nh một trong những nguyên nhân, động lực bên trong, trực tiếp thúc đẩy mạnh
nhất sự phát triển lực lợng sản xuất
Trong điều kiện thông tin hoá , toàn cầu hoá của đời sống xã hội và
kinh tế thế giới ngày nay, nhiều thành tựu của cuộc cách mạng KH- CN có thể đợc
chuyển giao tiếp nhận tơng đối nhanh chóng, dễ dàng, tạo ra cơ hội khách quan
thuận lợi cho sự phát triển đột biến, nhảy vọt và bứt phá về kinh tế ở những dân
tộc, quốc gia, hay khu vực nhất định trong những thời điểm, thời kỳ hay giai đoạn
nhất định. Nhng để tranh thủ tân dụng và phát huy đợc hết tiềm năng của cơ hội
bên ngoài này thì điều kiện tất yếu và tối thiểu là ở bên trong phải chuẩn bị xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và bồi dỡng nhân tố con ngời lao động ở một nức độ
tơng ứng, thích đáng. Kinh nghiệm thế giới về việc giải quyết mối quan hệ con
12
ngời- t kiệu sản xuất- khoa học một cách cân đối, hài hoà để tạo ra hiệu quả tổng
hợp tối đa và tối u về kỹ thuật là khá toàn diện và
phong phú
Việc xây dựng rõ vị trí tơng quan vai trò và ảnh hởng của KH- CN trong hệ
thống các thành tố lực lợng sản xuất nh trên đã đồng thời làm sáng tỏ giới hạn tác
động của nó về mặt xã hội. Sự phát triển của khoa học không trực tiếp dẫn tới sự
thay đổi quan hệ sản xuất và chế độ sở hữu. Trái lại, vai trò cách mạng hoá của
khoa học đối với việc thúc đẩy sự tăng trởng của lực lợng sản xuất lại bị chế ớc bởi
một quan hệ sản xuất và kiến trúc thợng tầng xã hội nhất định. Nói cách khác,
tiềm năng thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển của khoa học là vô tận, nhng mức
độ, giới hạn hiện thực hoá tiềm năng này lại phụ thuộc khuôn khổ của quan hệ
sản xuất thống trị
Tuy nhiên, sự phát triển nh vũ bão của cách mạng KH- CN hiện đại đang
diễn ra từng ngày, từng giờ ở khắp mọi nơi trên thế giới đã có tác dụng cụ thể. Sức
tiến công vũ bão của phong trào giải phong dân tộc, giai cấp t sản đã chủ động ra
sức đẩy mạnh cuộc cách mạng KH- KT, sử dụng các thành quả của nó để phát
triển lực lợng sản xuất, phát triển kinh tế một cách thành công
Tuy không lạc quan đến mức vội vã và ngộ nhận mà cho rằng, cuộc cách
mạng KH- CN hiện đại sẽ tự động và trực tiếp đa ngay đến một xã hội thực sự là
hậu TBCN , nhng chúng ta vẫn có thể ghi nhận những thành tựu lớn lao của cuộc
cách mạng này và có đủ cơ sở để tin tởng rằng, những thành tựu ấy trong hôm qua,
hôm nay và ngày mai đều góp phần thiết thực thúc đẩy CNTB đi nhanh hơn tới
điểm kết thúc không thể tránh khỏi.
c. Khoa học công nghệ đã nhanh chóng trở thành lực lợng sản xuất trực
tiếp ở nớc ta
Việc khoa học trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp là dự đoán thiên tài của
C.Mác. Dựa trên cơ sở phân tích rõ vai trò của khoa học trong sự phát triển của
công nghiêp, ông đã kết luận : Việc biến khoa học thành lực lợng sản xuất trực
tiếp là một quy luật khách quan của sự phát triển xã hội. Ngày nay dự đoán ấy
đang trở thành hiện thực trong nhiều nớc công nghiệp phát triển
13
Khoa học là một hệ thống tri thức đợc tích luỹ trong quá trình lịch sử và đợc
thực tiễn kiểm nghiệm, phản ánh những quy kuật khách quan của thế giới bên
ngoài cũng nh hoạt động tinh thần của con ngời, giúp con ngời có năng lực cải tạo
thế giới
Nh vậy, khoa học là văn hoá biết, còn sản xuất, kỹ thuật, công nghệ là
văn hóa làm . Từ biết đến làm có một khoảng nhất định nhng không hề có
bức tờng nào ngăn cản tuyệt đối cả. Khoảng cách ấy có thể bị rút ngắn và đợc rút
ngắn đến đâu là tuỳ thuộc ở trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, của kỹ thuật,
công nghệ và khoa học
Khoa học là kết quả nghiên cứu của quá trình hoạt động thực tiễn, nhng đến
lợt mình nó lại có vai trò to lớn tác động mạnh mẽ trở lại hoạt động sản xuất. Do
đó con ngời hoàn toàn có khả năng biến khoa học thành lực lợng sản xuất trực
tiếp.
Trong thực tế, sự phát triển của khoa học đã giúp con ngời tăng cờng sức
mạnh trong quá trình chinh phục tự nhiên, sử dụng có hiệu quả những sức mạnh
của nó. Nếu không có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, làm sao con ngời có
thể tạo ta năng lợng hạt nhân, phóng tàu vũ trụ lên thám hiểm các hành tinh, hay
sản xuất ra máy tính điện tử và ngời máy công nghiệp thay thế nhiều hoạt động
phức tạp của mình.
Khi còn ở trình độ thấp, khoa học tác động tới kỹ thuật và sản xuất còn rất
yếu, nhng đã phát triển đến trình độ cao nh ngày nay thì nó tác động mạnh mẽ và
trực tiếp tới sản xuất. Kỹ thuật và công nghệ là kết quả sự vận dụng những hiểu
biết, tri thức khoa học của con ngời để sáng tạo, cải biến các công cụ, phơng tiện
phục vụ cho hoạt động sản xuất và các hoạt động khác của xã hội. Khoa học trở
thành lực lợng sản xuất trực tiếp thì dứt khoát phải gắn liền với kỹ thuật và công
nghệ. Song nh thế cha đủ. Khoa học còn phải đợc ngời lai động tiếp thu vận dụng
để nâng cao kỹ năng, kỹ xảo lao động, phát triển t duy kinh tế nhanh nhạy, trau
dồi đạo đức, lối sống, v v, mới có thể trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp và
mạnh mẽ. Ngời lao động là chủ thể sử dụng các phơng tiện kỹ thuật. Do đó họ
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét